Chào Bạn Đến Với Trang Web Của Tuấn

Bài báo cáo tại

Hội thảo về Nghề làm vườn ở Đồng Tháp (8/2004)


ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN LÀNG HOA

 

Lê Anh Tuấn

Đại học Cần Thơ
--- oOo ---

Hoa góp phần tô đẹp cuộc sống (Ảnh: LA. Tuấn)

   
Tóm tắt:
Phát triển làng hoa làm đa dạng hóa các loại hình làng nghề truyền thống, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho xã hội, tạo cảnh quan môi trường tốt đẹp hơn, tăng thu nhập cho người trồng hoa và thúc đẩy qua lại với các hoạt động khác như du lịch, dịch vụ, văn hóa,…        

Tuy nhiên để tránh việc phát triển một cách tự phát, thiếu định hướng dẫn đến sự lệch lạc, mất cân đối, thậm chí mâu thuẫn nhau có thể dẫn đến phá vỡ mục tiêu ban đầu, việc định hướng quy hoạch tổng thể là cần thiết. Bài báo cáo này sẽ liệt kê các điểm cần thảo luận khi định hướng cho các quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết liên quan đến việc phát triển các làng hoa kiểng ở Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và cho cả nước nói chung. Việc định hướng bao gồm xác định các mục tiêu, phân tích các điểm mạnh và điểm yếu, cơ hội và thử thách, xem xét các quan hệ liên quan, điều kiện cần và đủ cho việc quy hoạch phát triển cũng như các đề xuất nghiên cứu tiếp theo sau .

1. TỔNG QUAN
Khi một xã hội phát triển về kinh tế và văn hóa, nhu cầu thưởng ngoạn các loại hình nghệ thuật có cơ hội mở rộng. Trồng hoa cảnh là một trong những ngành nghề truyền thống ở nhiều địa phương Việt Nam, mang lại lợi ích kinh tế cho nhiều hộ nông dân, vừa tạo nên cảnh quan đẹp, mang sắc thái nhân văn. Làng hoa cảnh ở Việt Nam thường được hình thành ở vùng ven của các đô thị loại trung bình và lớn, như một phần của vành đai xanh, nhằm cung cấp hoa tươi, cây cảnh cho cá nhân, gia đình và các cơ quan. Trải theo suốt chiều dài đất nước, Việt Nam có nhiều nhà vườn, làng hoa, vùng chuyên canh hoa, nhiều làng hoa đã hình thành từ vài trăm năm như các làng hoa Ngọc Hà, Nghi Tàm, Nhật Tân, Quảng Bá, … ở Hà Nội, trên một trăm năm thì có các làng hoa nổi tiếng ở thành phố Đà Lạt, thị trấn Đơn Dương, làng hoa Gò Vấp của thành phố Hồ Chí Minh, các làng hoa Tân Qui Đông, Sa Đéc cũng đã có trên 70 năm, làng hoa Thới Nhựt, An Bình của thành phố Cần thơ vào khoảng 60 năm tuổi và một số làng hoa mới hình thành khoảng trên mười năm nay do nông dân chuyển đổi việc canh tác từ cây lúa sang cây hoa. Gần đây, đã hình thành có nhiều công ty, trang trại, vườn hoa chuyên canh hoa và cây cảnh ra đời, qui mô lớn theo kiểu công nghiệp thì có Công ty Dalat Hasfarm, trang trại hoa Langbiang Đà Lạt, nhỏ hơn thì có các nhà vườn, cơ sở, câu lạc bộ hoa cảnh góp phần rộn rịp và khởi sắc thị trường hoa tươi và hoa cảnh các loại. Hầu hết các thanh phố lớn ở Việt Nam đều hình thành các cơ sở, câu lạc bộ của Hội Sinh vật cảnh và Hội Hoa lan Cây cảnh.

Tuy nhiên, cũng điều ghi nhận là một số làng hoa đang bị thu hẹp diện tich dần do sự mở rộng đô thị và các khu công nghiệp, nghề trồng hoa thường có thu nhập không ổn định do nhiều yếu tố thời tiết bất thường, chậm đổi mới chủng loại, kỹ thuật trồng, đầu ra của thị trường bị cạnh tranh, … Cái thiếu sót nhất là hiện nay là chúng ta chưa có một định hướng rõ ràng trong quy hoạch phát triển các làng hoa nói chung và nghề trồng hoa nói riêng. Thời gian qua đã có rải rác một số bài viết trên các báo Hoa Cảnh (của Hội Hoa lan Cây cảnh, xuất bản ở thành phố Hồ Chí Minh) và báo Việt Nam Hương Sắc (của Hội Sinh vật cảnh, xuất bản ở Hà Nội) cũng có đề cập đến vấn đề này. Gần đây nhất là có ý kiến chỉ đạo của Văn phòng Thủ tướng tại buổi làm việc với Hội Sinh vật cảnh Việt nam đánh giá: "Hiện nay thu nhập từ sản xuất, dịch vụ sinh vật ảnh còn chiếm tỷ trọng quá nhỏ trong thu nhập quốc dân. Giá trị xuất khẩu năm 2003 mới đạt mức 25 - 30 triệu USD/năm, chưa tương xứng với tiềm năng phong phú và đa dạng của nước ta. Chúng ta có các vùng kinh tế và sinh thái khác nhau với khí hậu nhiệt đới, gió mùa, hoàn toàn có thể đẩy mạnh phát triển sản xuất, dịch vụ sinh vật cảnh, đóng góp xứng đáng vào phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của đất nước"1.

Việc định hướng quy hoạch giúp chúng ta có một cái nhìn tổng quan bao quát trên nhiều vấn đề liên quan đến việc phát triển ngành nghề, nó sẽ là nền tảng cho các cấp chính quyền tham khảo trước khi có các quyết định chỉ đạo, các ban ngành khác liên quan cũng có điều kiện hỗ trợ thúc đẩy lẫn nhau để phát triển, giảm thiểu các mâu thuẩn và các bên cũng có cơ sở kịp thời điều chỉnh các chính sách khi có các biến động bất lợi ngoài dự kiến.

2. CƠ SỞ PHÁT TRIỂN LÀNG HOA
Hoa là một tạo vật của thiên nhiên giúp sự duy trì giống nòi và làm đẹp cảnh quan. Từ ngàn xưa, con người đã biết dùng hoa và cây để trang trí, cúng lễ, giao tế, kể cả làm thức ăn, … Cuốc sống ngày càng phong phú và đa dạng dần dần hình thành nghề trồng hoa và bán hoa. Cây hoa, theo nghĩa rộng bao gồm cả hoa tươi, cây cảnh các loại, …, đã được con người sưu tập, vun trồng, chuyển vận, lai tạo, uốn sửa, … rất phong phú và đa dạng. Từ những vườn hoa riêng rẽ tập hợp dần thành như vùng chuyên canh hoa cảnh, làng hoa, trang trại hoa, công ty trồng và kinh doanh hoa cảnh theo hướng tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. Cần thiết phải "chuyển đổi từ phương thức sản xuất thủ công sang công nghiệp, với việc ứng dụng các thành quả khoa học kỹ thuật vào lĩnh vực sản xuất hoa cảnh"2 .

Làng hoa mang một sắc thái văn hóa rất riêng và điển hình cho một khu vực gắn liền với tên làng hoa như một thương hiệu, điển hình như làng đào Nhật Tân, làng hồng Đà Lạt, làng mai Thủ Đức, làng kiểng Sa Đéc,…. Làng hoa có thể tạm định nghĩa là một làng mà hầu hết người dân sinh sống bằng nghề trồng hoa và phần lớn đất đai được sử dụng cho việc chuyên canh hoa.

Có 4 yếu tố quan trọng hình thành, tồn tại và phát triển một làng hoa:


Yếu tố địa lý tự nhiên: làng hoa hình thành ở các vùng có điều kiện thời tiết tương đối điều hòa, ít bị thiên tai, đất đai màu mỡ, nguồn nước ngọt dồi dào và không khí trong lành thuận lợi cho một số chủng loại hoa nhất định phát triển tốt.

Yếu tố nhân văn - xã hội: người dân trong làng hoa có nhiều nghệ nhân kinh nghiệm trồng và chăm sóc hoa cảnh, có khả năng cảm thụ nhất định với cái đẹp, cách bố trí mỹ thuật các cây hoa, cây thế, cây cảnh. Làng hoa thường phát triển lân cận với các trung tâm dân cư, khu kinh tế - thương mại, các cơ sở văn hóa và giáo dục và các viện nghiên cứu khoa học.

Yếu tố kinh tế - cơ sở hạ tầng: các cơ sở hạ tầng góp phần vào việc phát triển nghề trồng hoa như hệ thống cung cấp nước, các tuyến giao thông đường bộ, đường thủy, hệ thống lưới điện, nhà kiếng, nhà kho, bến xe, tàu… Bối cảnh một nền kinh tế xã hội phát triển cũng là đòn bẩy thúc đẩy nghề trồng và kinh doanh hoa cảnh.

Yếu tố chính sách: sự quan tâm của chính quyền, các cấp lãnh đạo cũng là một cơ sở thúc đẩy phát triển làng hoa. Các chính sách khuyến kích nghề trồng hoa, cho vay vốn, đánh thuế nhẹ, đầu tư cơ sở hạ tầng như giao thông - thủy lợi, mở rộng diện tích đất trồng, cổ động việc đưa tiến bộ khoa học cây trồng, công nghệ sinh học ứng dụng trong hoa cảnh, đào tạo nghề, quảng bá thương hiệu, giảm thiểu ô nhiễm … sẽ tạo các bước đi vững chắc cho làng nghề liên quan đến cây và hoa cảnh.

Tuy nhiên, cần cần lưu ý rằng, cũng rất khó cho chính quyền để có một chính sách hoàn toàn tốt cho tất cả sự phát triển toàn bộ các ngành nghề. Kinh tế phát triển, đô thị mở rộng, khu công nghiệp hình thành, trình độ dân trí được nâng cao, … là yếu tố góp phần thúc đẩy nhu cầu hưởng thụ cái đẹp, thưởng ngoạn hoa cảnh nhưng mặt khác đôi khi nó cũng làm mai một hoặc thu hẹp làng hoa. Nhiều ví dụ trên nhiều vùng đất nước cho thấy diện tích các làng hoa bị thu hẹp rất nhiều như diện tích làng hoa ở Tây Hồ giảm đi hơn 20%, làng hoa Ngọc Hà, Hữu Tiệp, … chỉ còn vài chục sào, làng hoa Gò Vấp giảm đi gần 400 ha so với vài chục năm trước đây. Nhiều thanh niên ở các làng hoa truyền thống không muốn tiếp tục nghề trồng hoa của cha ông và có khuynh hướng bán đất rồi tràn lên các thành phố lớn sinh sống, một số khu công nghiệp hình thành đã gây ô nhiễm đất, nước và không khí nghiêm trọng cho các làng hoa khiến sản phẩm hoa bị giảm chất lượng.

Điểm mạnh và điểm yếu nội tại trong bản thân hiện nay của các làng hoa hiện hữu ở Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và cả nước nói riêng như sau:

Điểm mạnh:
+ Có ưu thế về thời tiết nói chung, đất đai thuận lợi, nguồn nước tưới đầy đủ và chưa bị ô nhiễm nhiều.
+ Có nhiều nghệ nhân kinh nghiệm lâu năm trong việc tuyển chọn, trồng, chăm sóc, uốn tỉa cây hoa cảnh.
+ Nông dân Việt Nam rất cần cù, ham học hỏi, chịu đổi mới và khả năng thích nghi cao.
+ Đã tạo được một số tín nhiệm cho người tiêu thụ. Tên tuổi của nhiều làng hoa đã khẳng định thế mạnh của riêng mình.
+ Gần đường giao thông và điều kiện vận chuyển đến các đô thị.

Điểm yếu:
- Nhiều chủng loại cây hoa bị suy thoái, thiếu điều kiện thuần hóa, phục tráng, lai tạo. Chưa có nhiều kinh nghiệm phòng chống các dịch sâu bệnh, nấm bệnh, biến đổi bất thường của thời tiết, …
- Thiếu vốn đầu tư thích đáng, nguồn cung cấp giống nghèo nàn.
- Thiếu thông tin và chưa có một chiến lược quy hoạch phát triển lâu dài.
- Việc đào tạo nghề còn tự phát, chương trình đào tạo nghề trồng hoa viên (horticulture3) gần như chỉ mới hình thành, số người từ các làng hoa đến học gần như rất ít.
 

Cơ hội và thách thức từ các tác động bên ngoài cho làng nghề trồng hoa hiện nay tập trung ở các điểm sau:

Cơ hội:
+ Thu nhập và đời sống của người dân hiện nay đang được nâng cao, khuynh hướng thưởng ngoạn, hưởng thụ nghệ thuật tạo nhu cầu cao về nguồn cung cấp hoa cảnh. "So với các loại cây trồng khác, trồng hoa kiểng mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn" 4.
+ Việc phát triển loại hình du lịch sinh thái, du lịch miệt vuờn, du lịch làng nghề thúc đẩy việc phát huy củng cố thế mạnh làng hoa.
+ Việt Nam có nhiều lễ hội được tổ chức ở mọi miền đất nước, trong các thời điểm này, hoa được tiêu thụ mạnh: Tết Nguyên đán, hội chợ Hoa xuân, các ngày rằm, Lễ Phật đản, ngày Tình yêu Valentine 14/2, ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, …
+ Việc giao thương, trao đổi, mua bán các giống cây hoa cảnh mới từ nhiều nguồn trong và ngoài nước đã trở nên dễ dàng và thuận lợi hơn.
+ Đã bắt đầu có sự quan tâm của chính quyền, các nhà khoa học và các nhà đầu tư trong nước và cả nước ngoài.
+ Ở Việt Nam đã có một số cơ sở đào tạo, tập huấn hoa cảnh như của Hội Hoa Lan Cây Cảnh TP. HCM. Một số trường đại học cũng có chương trình đào tạo kỹ sư chuyên ngành hoa viên như trường Đại học Nông nghiệp Huế, trường Đại học Nông Lâm TP. HCM và trường Đại học Cần Thơ cũng đang chuẩn bị cho ngành đào tạo này.

• Thách thức:
- Việc mở cửa đất nước cũng tạo nên những thách thức lớn khi các nguồn cây hoa cảnh từ bên ngoài mới lạ và rẻ hơn đang ồ ạt xâm nhập cạnh tranh với hàng cây cảnh trong nuớc.
- Tình trạng đô thị hóa, mở rộng các khu công nghiệp lớn ra ngoại thành làm đất trồng hoa bị thu hẹp và trở nên đắt đỏ. Các chất ô nhiễm từ sinh hoạt và công nghiệp như rác thải, nước thải và khí thải đang đe dọa tính bền vững của làng hoa.
- Các biến động giá cả, nguồn tiêu thụ bên ngoải bị phụ thuộc vào nhiều yếu tố, các rủi ro trong kinh doanh còn khá lớn và chưa dự báo trước được.

Dựa vào các phân tích bên trong và bên ngoài như trên cho thấy việc đầu tư phát triển các làng hoa cảnh tuy có nhiều thách thức và khó khăn nhưng cơ hội và ưu thế vẫn lớn hơn và triển vọng phát triển loại hình nghề nghiệp canh tác và kinh doanh hoa và cây cảnh ở nước ta khá hứa hẹn và đang khởi sắc, có thể từng bước cạnh tranh với các quốc gia lân cận trong khu vực có thế mạnh về hoa cây cảnh như Thái Lan, Trung quốc, Malaixia, Indonesia, Đài Loan ...


3. ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN LÀNG HOA
Quy hoạch tổng thể cho việc phát triển làng hoa là một việc làm cần thiết và phải đi trước một bước sau khi có các chủ trương ban đầu. Việc hình thành một qui hoạch tổng thể cho làng hoa phải bắt nguồn từ các chủ trương, chính sách của cấp chính quyền. Sau đó, các quy hoạch tổng thể liên quan đến các địa điểm, diện tích đầu tư, chọn lựa phương án trồng và kinh doanh, quan hệ tương hỗ với các ban ngành khác và phân tích kinh tế, nguồn vốn, thời điểm tiến hành và sau khi được phê duyệt, quy hoạch chi tiết hơn cụ thể sẽ được vạch định (loại cây trồng chủ lực, thời vụ, bố trí chi tiết, các công trình phụ trợ như hệ thống tưới, điện,….). Từ quy hoạch này, các chương trình mục tiêu sẽ được lựa chọn vì không thể đầu tư ồ ạt cùng một lúc cho tất cả các hạng mục và tiếp theo là các dự án cụ thể như việc giao đất, đầu tư vốn, xây dựng công trình tưới, đường giao thông, các địa điểm giao thương, trình diễn, quảng bá, … Trong chi tiết của dự án có thể có nhiều hạng mục công trình. Tuy nhiên, cũng có nhiều dự án hay công trình (đặc biệt là loại nhỏ hoặc vừa) có thể trực tiếp từ các chủ trương chính sách mà không qua các bước trung gian như qui hoạch tổng thể, chương trình mục tiêu, ... Một tiến trình tổng quát từ chính sách đến một dự án, công trình như sau5:

Sơ đồ vị trí Quy hoạch trong các bước từ Chính sách đến Công trình

Một số gợi ý mang tính định hướng cho việc quy hoạch tổng thể phát triển làng hoa:

3.1. Mục tiêu

Mục tiêu lâu dài cho việc phát triển các làng hoa nhằm đa dạng hóa ngành trồng trọt, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho lao động nông thôn, khai thác tiểm năng tự nhiên và xã hội, duy trì các kinh nghiệm cổ truyền và nghề hoa cảnh truyền thống, góp phần tô điểm đất nước, bảo vệ môi trường và thúc đẩy du lịch.              

 

Mục tiêu cụ thể là:
+ Định hình và tổ chức các làng hoa truyền thống;
+ Xây dựng các phương án chọn lựa cây hoa cảnh, bảo tồn và phát triển các sản phẩm cây hoa quí, nhập nội có chọn lọc các cây hoa có giá trị;
+ Đề xuất chính sách vay vốn và kinh doanh hoa cảnh;
+ Tạo thương hiệu đặc thù cho các làng hoa;
+ Lập chiến lược quảng bá làng hoa qua sách báo, phương tiện truyền thông, xây dựng website, …
+ Thúc đẩy đào tạo và nghiên cứu khoa học ngành hoa viên, trang trí ngoại thất, công viên, công sở, công trình công cộng.
+ Nghiên cứu việc đầu tư các công trình hạ tầng tạo thuận lợi cho việc trồng và kinh doanh hoa cảnh như đường giao thông, hệ thống tưới tiêu, trung tâm/siêu thị bán các cây, hoa cảnh và sản phẩm đi kèm như chậu hoa, đất trồng, dụng cụ làm vườn, sách hoa cảnh, tư vấn và thiết kế trang trí sân vườn, …
+ v.v….

 

3.2. Nội dung quy hoạch khu vực làng hoa

3.2.1. Tổng quan các đặc điểm tự nhiên
+ Tổng quan về vị trí địa lý, diện tích, giới hạn hành chánh;
+ Đặc điểm khí tượng - thủy văn khu vực;
+ Tính chất đất đai - bản đồ đất, bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng sử dụng đất
+ Đặc điểm sinh thái, cây trồng, sinh vật khu vực

3.2.2. Đánh giá các đặc điểm kinh tế - xã hội
+ Dân cư: số người, số hộ, cơ cấu nam - nữ, tuổi lao động, diện tích canh tác trung bình/hộ, cơ cấu lao động, …
+ Tổ chức nghề nghiệp: tình hình hộ cá thể, hợp tác xã, câu lạc bộ nhà nông, Hội cây cảnh, Hội nông dân, và các tổ chức kinh tế - chính trị - xã hội khác (nếu có)
+ Lược khảo các chủ trương - chính sách bằng văn bản, nghị quyết liên quan đến làng nghề.
+ Truyền thống làng nghề;
+ Các cơ sở sản xuất, khu công nghiệp, khu dân cư, cơ sở hạ tầng, … lân cận

3.2.3. Phân tích SWOT (Điểm mạnh - Điểm yếu, Cơ hội - Thách thức)5
+ Điểm mạnh
+ Điểm yếu
+ Cơ hội
+ Thách thức

3.2.4. Phân tích chiến lược - Phương án cây trồng
+ Qui mô làng hoa: diện tích cần thiết cho hiện tại và khả năng mở rộng cho tương lai?
+ Phân tích phương thức cây trồng: chuyên canh hoa hay đa canh? Cách thức "lấy ngắn nuôi dài"?
+ Nguồn lao động và tay nghề có khả năng đáp ứng?
+ Phân tích xu thế thưởng ngoạn hiện nay và dư báo tương lai cho các tầng lớp người dân khác nhau như thế nào?
+ Chọn lựa loại hoa, cây cảnh chủ lực: chủng loại, diện tích, thời vụ, …
+ Bố trí từng loại cây hoa ở vùng nào? Diện tích và qui mô số cây? Lý do?
+ Nguồn giống hoa nào? Có cần phải nhập nội?
+ Các yêu cầu kỹ thuật cây trồng cần áp dụng?
+ Phòng trị bệnh cây?
+ Hướng đầu ra của cây trồng? Tiêu thụ nội địa? Xuất khẩu?
+ Yêu cầu đào tạo? Nghiên cứu khoa học liên quan đến nghề trồng hoa cảnh?
+ Phương thức đăng ký thương hiệu? quảng bá sản phẩm

3.2.5. Phân tích kinh tế
+ Phân tích cơ cấu nguồn vốn đầu tư: tư nhân, hợp tác xã, Nhà nước?
+ Qui mô làng hoa: diện tích cần thiết cho hiện tại và khả năng mở rộng tương lai?
+ Phân tích tài chính: Vốn - Lợi nhuận?
+ Phân tích các lợi ích gia tăng: du lịch, nghề thủ công, dịch vụ?
+ Phân tích phi tài chính: môi trường, xã hội, cảnh quan, giáo dục?
 

III. Dự kiến đầu tư tài chánh và thời gian tiến hành

+ Dự kiến vốn đầu tư
+ Thời gian tiến hành các bước đi trong quy hoạch
 

IV. Đề xuất các kiến nghị

+ Các đề xuất kiến nghị gởi các cấp chính quyền

4. KẾT LUẬN
Nghệ thuật hoa cảnh không chỉ đơn thuần là một thú chơi tao nhã, niềm vui giải trí cho các tầng lớp người dân khác nhau giới hạn trong các góc sân, mảnh vườn, công viên mà bản thân của nó đã vượt qua các giới hạn không gian và qui mô phát triển ngày càng cao và đa dạng có tính chất đại chúng, mang lại nhiều lợi ích kinh tế, xã hội và cảnh quan môi trường to lớn. Do vậy, chủ trương quy hoạch phát triển các làng hoa là hợp lý và cần thiết. Tuy nhiên, nếu đơn thuần duy ý chí, thiếu điều tra kỹ khi khảo sát nhu cầu phát triển thực tế, việc phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội quá đơn giản và chủ quan, thì dễ dẫn đến sự phát triển thiếu bền vững, bất cân xứng, thậm chí mâu thuẫn dẫn đến các thiệt hại to lớn.

Trên đây chỉ là một số gợi ý định hướng cho việc quy hoạch tổng thể phát triển các làng hoa, thực tế nội dung có thể thay đổi ít nhiều tùy thuộc vào tình hình thực tế ở các địa phương. Mục tiêu qui hoạch phải thực tế và có khả năng áp dụng hiện thực, một bản báo cáo quy hoạch tốt phải được xem xét trên nhiều chỉ tiêu: chính sách, kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường.

Hy vọng trong nay mai các làng hoa truyền thống được tiếp tục duy trì và mở rộng làm đẹp quê hương, góp phần xóa đói giảm nghèo, vươn đến sự giàu có, sung túc cho người dân nông thôn và một số bộ phận cư dân đô thị. Nếu công việc phát triển làng hoa thành công một cách bền vững sẽ mang đậm tính nhân văn và rất đáng hoan nghênh.

Lê Anh Tuấn
Sa Đéc, tháng 8/2004

1. Văn phòng chính phủ (2004), Thông báo số 116/TB-VPCP ngày 08 tháng 6/2004 

2.  Nguyễn Thiện Tịch (2003), Tạp chí Hoa Cảnh số 5(83)-2003

3. Lê Anh Tuấn (2004), Lời bàn: Tên gọi tiếng Việt ngành Horticulture chưa được thống nhất hiện nay, ở các nơi khác nhau có các tên gọi như: Hoa viên, Canh viên, Điền viên, Nuôi trồng hoa cảnh, Nghề làm vườn, Viên nghiệp, … Ngoài ra, từ tiếng Anh Gardening cũng chỉ các công việc tương tự như Horticulture.

4. Văn phòng UBND. TX. Sa Đéc (2/2004), Báo cáo định hướng phát triển nghề Hoa kiểng thị xã Sa Đéc đến năm 2010

5. Lê Anh Tuấn (2001), Giáo trình Phân tích Dự án Phát triển Nông thôn, Đại học Cần Thơ

 

 

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

Chúc một ngày tốt lành - Have a nice day

 

 

Gia Đình của Tuấn
Cacti & Succulents
Water Resources & Environmental Engineering
Rural & Community Development
Cultural & Social Forum
Entertainment
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Cập nhật tháng 8/ 2004

Các góp ý xin gởi e-mail về latuan@ctu.edu.vn

 
Trường Đại Học Cần Thơ Lê Anh Tuấn's Home Page