Chào Bạn Đến Với Trang Web Của Tuấn

 
Chọn tên cho con ... không dễ !!!

 

Lê Anh Tuấn

 

Ai cũng phải có một cái tên ... Ngoài cái tên cha mẹ đặt cho (gọi là tên cúng cơm), còn thêm chuyện tự đặt tên, tên cho bút hiệu (bút danh), tên cho giao dịch (ký danh), tên cho tu hành (pháp danh), tên do người khác đặt (biệt danh), tên cho hoạt động "cách mạng" (bí danh), ....

 

Chuyện đặt tên đó thì dĩ nhiên rồi. Chó mèo, cây cỏ, đồ vật, địa danh cũng có tên mà, huống gì con người. Trên cõi đời này, có hằng hà biết bao từ ngữ. Chọn một chữ nào đó để gọi thằng cu, con bé để mọi người gọi nó, không nhầm với đứa khác, có chi mà băn khoăn???

 

Nói đơn giản thế mà biết bao cặp vợ chồng trẻ cứ vò đầu bứt tai, lục tung các từ điển, lật các quyển tiểu thuyết, lần giở từng trang gia phả kiếm một cái tên nào cho con, đôi khi cãi cọ, giận hờn chỉ vì cái tên. Rồi lôi kéo thêm vào ông bà, anh chị, cô dì chú bác xen vào. Mỗi người cho một tên, rốt cuộc là sự việc càng lúc càng trở nên ... rối.

 

Tên thì muôn hình vạn trạng. Có cô mang tên dài thậm thượt: Công Tằng Tôn Nữ Hương Bình Đoan Trang, lại có ông tên cụt ngủn: Lê A. Có người mang tên nghe thật vui: Hoàng Sáng Vui Tươi, lại có kẻ mang tên nghe buồn buồn thế nào: Trần Trầm Mặc. Có tên rất giản dị, chẳng có chút ấn tượng nào: Lý Văn Hai và có tên nghe phức tạp, nghe chẳng hiểu ý muốn gì: Nguyễn Trung Thiên Hoàng Nhân.

 

Người Việt thường có "truyền thống" đặt tên theo họ cha, lấy họ mẹ chỉ vài trường hợp đặc biệt. Chữ lót thường là "Văn" cho bé trai và "Thị" cho bé gái, hai chữ này nhắm giúp mọi người xác định giới tính của người mang tên. Theo quan niệm xưa, chữ "văn" của người đàn ông phải gắn với chuyện văn chương, văn học, văn nhân, ... Còn chữ "thị" có nghĩa là  "chợ", xem như là chốn lui tới của đàn bà phụ nữ. Xem như là được 2 chữ trong dãy họ tên rồi. Tuy vậy, nhiều gia đình hiện nay không thích kiểu đặt tên lót như thế này, họ cho là kiểu như vậy là thường, thiếu cá tính.

 

Ngày xưa, quyền chọn tên cho con thường trân trọng dành ông bà nội hoặc người cha quyết định. Khi người mẹ lâm bồn, biết đứa bé là trai hay gái. Người ông khẽ khàng lấy cuốn gia phả giòng họ ra xem các tên ông sơ, bà cố, họ hàng gần xa xem coi ai có tên gì rồi thì tránh đặt cái tên ấy để tránh bị quở. Chọn ướm thử vài cái tên, xong cẩn thận xem lại tên này có phạm húy vua hay hoàng tộc gì không? Tên cũng không được trùng tên các thần thánh, tiên mẫu. Nếu con sinh ra, xem khó nuôi hoặc trước đó anh chị nó bị chết, thì người xưa sợ đặt tên con đep sẽ bị quỷ thần bắt mất nên cho đứa bà những cái tên Cu, Hĩm, Đen, Xí, Đủi, ...

 

Ngày nay, chẳng ai tin vào điều nhảm nhí như vậy, tên cần đặc biệt một chút hoặc mang hoài vọng nào đó của gia đình. Tuy nhiên, tên cao sang quá so với hoàn cảnh nhà mình cũng không được mà hèn mạc quá cũng không nỡ. Đôi khi cái tên cũng gần gần với địa danh quê hương, nghề nghiệp gia đình, mong ước của cha mẹ, ... Làm sao tên phải hài hòa với họ, tên phải dễ gọi, dễ nhớ, dễ mến, ... mà phải độc đáo. Những cái tên này cần phải tránh kẻo đứa bé dễ bị bạn bè trêu chọc:

 

- Tên nghe chói tai: Trạch Văn Đoành (tên một nhận vật của Nam Cao), Lưu Văn Ruyến, Trần Trừng Trị, Cao Chớt Quớt, Nguyễn Nghểnh, ...

- Tên mang tính cuồng vĩ: Lê Vô Địch, Nguyễn Thị Tuyệt Sắc, Cao Hoàng Đế, Bùi Nhất Thiên Hạ, Trần Sư Phụ, ...

- Tên quái gở: Nguyễn Thị Nghĩa Trang, Trần Văn Vô Hồn, Phan Phát Tử, ... Chắc chắn những người mang các tên này, đầu năm mới không dám đi xông đất nhà ai!

- Tên ngược giới tính như nam mang tên nữ: Lê Tuyết Xuân, Trần Thủy Tiên, ... nữ mang tên nam: Phan Hùng Anh, Phạm Biên Cương, ...

- Tên dễ bị nói lái: Vương Tiến Tùng, Võ Châu Lực, Bùi Thị Hồng Mai, ...

 

Hoàng tộc triều Nguyễn của xứ Huế có nhiều đời vua chúa kéo dài từ năm 1558 đến 1945. Con cái giòng họ nhà vua thật đông đúc, thế, thứ, thân, sơ... để tránh nhầm lẫn rối rắm giữa các thế hệ, vua Minh Mạng mới đặt ra một qui luật:

 

* Từ vua Minh Mạng trở ngược về trước: đều mang họ là "Nguyễn". Nếu từ Huế trở vô Nam thì chữ lót là "Phước", sau đó mới là tên. Còn giòng họ "Nguyễn" ra phía Bắc thì thành "Nguyễn Hựu". Vua Minh Mạng có tên là "Nguyễn Phước Đảm". Những người cùng họ hàng với vua Minh Mạng thì có họ và chữ lót là "Tôn Thất". Con gái của những người mang họ "Tôn Thất" là "Tôn Nữ".

 

* Bắt đầu từ thời Minh Mạng trở xuống thì tên phải lấy theo thứ tự của bài Đế Hệ Thi của do chính vua Minh Mạng sáng tác, gồm 20 chữ:

              Miên Hồng Ưng Bửu Vĩnh

              Bảo Quý Định Long Tường

              Hiền Năng Kham Kế Thuật

              Thế Thụy Quốc Gia Xương

 

Con vua Minh Mạng là vua Thiệu Trị (tên là Miên Tông), sau kế đến vua Tự Đức (Hồng Nhậm), vua Dục Đức (Ưng Chân), vua Thành Thái (Bửu Lân), vua Khải Định (Bửu Bảo), vua Duy Tân (Vĩnh San), vua Bảo Đại (Vĩnh Thụy), ...

 

Con trai của Vua thì có tên bắt đầu là Công Tử, con gái thì tên bắt đầu là Công Nữ. Con, cháu trai của Công Tử thì vẫn là Công Tử nhưng con gái thì có tên bắt đầu là Công Tôn Nữ, con gái của Công Tôn Nữ thì tên bắt đầu là Công Tằng Tôn Nữ, con gái của Công Tằng Tôn Nữ thì có tên bắt đầu là Công Huyền Tôn Nữ, .... Có lẽ do quá rắc rối mà xuống đời nữa, các cháu gái chỉ còn tên bắt đầu là Tôn Nữ...

 

Tên các cô gái trong hoàng tộc thường được đặt rất dài, đài các, ví dụ như Công Huyền Tôn Nữ Vương Thị Hoàng Diệu Sương Mai. Đọc nghe muốn đứt hơi. Các cô này lúc đi học, thường bị các thầy giáo chú ý do cái tên hoàng gia dài thậm thượt này nên hay gọi lên hỏi bài làm mấy cô phải lo học ốm cả người. Ông thầy lười viết cái tên dài như vậy nên rút gọn thành Công Mai làm cô bé ôm mặt khóc hu hu ...

 

Trong khí đó, con của giới bình dân, nông dân thì rất đơn giản. Có người thì cứ theo thứ tự Hai, Ba, Tư, Năm, Sáu, ... Lúc kêu tên con lần lượt, giống như nhà binh điểm quân số. Có gia đình đông con, thường xuyên vỡ kế hoạch nên có những đứa con tên Út, Út Nhỏ, rồi Út Thêm, Út Mót, Út Nữa. Có người đặt tên con theo năm sinh âm lịch: Canh Tý, Bính Thìn, Ất Hợi, ... Người có tên như thế này lại dễ tính ra tuổi. Có gia đình chọn tên con theo địa danh: Hương Trà, Quảng Bình, Hải Phòng, Thuận Hải, Ngự Bình, ... Có lẽ họ mong con cái đừng quên quê cha đất tổ. Một gia đình tại Đà Lạt, các đứa con trong nhà mang tên các danh lam thắng cảnh của xứ cao nguyên sương mù: Cam Ly, Tuyền Lâm, Đơn Dương. Có hộ nông dân lại chọn tên con thật bình dị, gắn với nghề làm ruộng của mình: Cày, Bừa, Gieo, Cấy, Gặt, Đập, ..., nghe qua như một quy trình canh tác. Có nhà vườn cho các con mang tên các loài cây ăn trái: Nhãn, Cam, Xoài, Dâu, ... Gia đình ông thợ thủ công thì đặt tên con là Rèn, Giũa, Gò, Hàn, ...

 

Có người đặt tên con theo một sự kiện lịch sử nào đó, đánh dấu thời điểm đứa bé chào đời: Vĩ Tuyến, Mậu Thân, Giải Phóng. Trước 1975, ở miền Bắc có mấy ông bộ đội thích đặt tên con trai là Thắng, Dũng, Chiến, Hùng,... Có ông cán bộ lại mơ về thế giới đại đồng nên đặt tên con toàn là các nước anh em xã hội chủ nghĩa: Nga, Triều (Triều Tiên), Bảo (Bulgari), Trung (Trung quốc), Đức, Lan (Ba Lan), .... May mà chẳng cô con gái nào "vô phúc" được ông bố chọn cái tên Cu (Cuba) hay Mông (Mông Cổ)!!!

 

Các đây không lâu, báo chí trong nước có thuật chuyện một số người xin đổi tên do cha mẹ đặt vì một sự cố đau khổ nào đó trong cuộc đời mà gán tên cho đứa bé vô tội. Có cô bị người yêu quất ngựa trung phong nên đặt tên con là Lê Thị Hận Đời, có bà bị chồng bỏ còn lúc mang thai bèn đặt tên con là Dương Thị Ly Tan. Ở xã Tiên Lãnh, huyện Tiên Phước, có cô bé tên là Võ Thị Xin Thôi, con ông Võ Mười Sáu. Ông kể, khi đứa bé ra đời (năm 1989), gia đình ông bị chính quyền địa phương kêu lên xử phạt vì sinh con vượt kế hoạch(?!). Nhà nghèo, con đông, ông phải nhịn ăn, bán lúa để nộp phạt. Lúc làm khai sinh, ông đặt luôn tên con: Xin Thôi.  Đến trường bị bạn bè châm chọc, bé Xin Thôi phải bỏ học.

 

Có gia đình ước mơ giàu sang nên đặt tên con là Phú Quí, Kim Hoàng, Vạn Tài, Muôn Lộc,... Nếu chẳng may mà gia đình làm ăn thua lỗ, nghèo nàn mang mấy cái tên này thiệt là ngặt nghèo. Đặt tên mà ngược với hình dáng thì cũng dễ bị trêu chọc, mỉa mai dù cha mẹ lúc mới có con không sao biết được con mình sau này thế nào. Tên con gái là Bạch Tuyết nhưng nhỡ có làn da chỉ trắng hơn dân Phi Châu một chút thì thật khổ. Câu trai tên Vương Trượng mà người loắt choắc, chỉ cao có 1.50 mét thì dễ tủi thân. Mang tên Thông Thái mà thằng nhóc đi học đội sổ hoài, có cô tên Tơ Liễu mà cái thân như ông Bồ Tượng...

 

Phong phú nhất là ở các gia đình trung lưu, giới trí thức, những người ở thành thị. Gia đình Nhà thơ Hà Mặc Tử, có năm anh em đều có tên theo thứ tự: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín. Thi sĩ Hàn Mặc Tử là người con thứ tư trong gia đình, tên Nguyễn Trọng Trí. Có gia đình, do chiến tranh chạy loạn mãi, nên đặt tên con với mơ ước từ chữ An: An Cư, An Bình, An Lạc, An Nghiệp, An Phú.

 

Thường thì các cô gái có tên các loài hoa: Hồng, Lan, Mai, Phượng,... hoặc đức tính: Hạnh, Hiền, Dung, Diệu, ... và ghép với các chữ Thanh, Hoàng, Thúy, Tuyết, ... Các cậu con trai thì tên mang vẻ mạnh dạn hơn: Tuấn Kiệt, Phi Hùng, Anh Minh, Hoàng Phong,...

 

Có nhà đặt tên con theo tên cha mẹ, chỉ khác chữ lót. Ví dụ mẹ tên Đoan Trang thì các con gái có tên là Thùy Trang, Tâm Trang, Mai Trang, Hoàng Trang, ... Ông bố tên Danh Phát thì các cậu con trai có tên là Tài Phát, Lộc Phát, Thế Phát, Quý Phát, ....

 

Bây giờ, có nhiều gia đình trẻ ở thành phố tính chỉ có một con nên ghép cả họ cha và họ mẹ vào cùng trong tên con, ví dụ cha là Trần Anh Dũng, mẹ là Lê Thị Tuyết Mai, cả hai có con gái đặt tên là Trần Lê Anh Tuyết. Nghe cũng hay hay...

 

Các nhà văn khi chọn bút danh thì rất sáng tạo. Nhà thơ Nguyễn Khắc Hiếu, có bút danh là Tản Đà. Tên này ghép từ tên núi Tản sông Đà, quê hương của nhà thơ. Nhà văn Thế Lữ vốn có tên là Nguyễn Thứ Lễ. Nhà thơ xứ Quảng nổi tiếng Bùi Giáng, vẫn lấy tên thật Bùi Giáng làm bút danh nhưng đôi khi nổi hứng lên, ông lấy tên lái là Bàn Dúi hoặc Bùi Giàng Búi làm bút hiệu.  

 

Sau 1975, có nhiều người Việt ra nước ngoài định cư. Trong quá trình hội nhập với các quốc gia sở tại, tên con cái cũng được đổi sao cho các em đi học sau này có cái tên dễ gọi. Thường nhất là một tên hoặc họ Việt ghép với một tên Mỹ Anh gì đó, theo kiểu tên Mỹ trước họ Việt sau, ví dụ như Julia Phạm, Robert Le, Elizabeth Tran, Maria Ly, ... Họ cũng tránh đặt tên con mà nếu gọi theo kiểu Mỹ dễ thấy xấu xí khi đọc không dấu như Mỹ Dung (My Dung), Phúc (Fuc), ... Một số người không muốn con mang những cái tên nửa Tây nửa Ta như vậy nên tìm những cái tên đơn âm mà Tây hay Ta điều chấp được và rất dễ đọc như Vi, Kim, An, Ly, My, ...

 

Xem vậy chứ đặt tên con không dễ... Ông bố trẻ tưởng đâu đơn giản, ngồi cầm nhíp nhổ râu gần sạch cái cằm mà nghĩ chưa ra cái tên của con...

 

 

 

L@Tuấn

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

 

Gia Ðình c?a Tu?n
Cây Xương Rồng & các Cây Mọng Nước
Kỹ Thuật Thủy Lợi & Môi Trường
Phát Triển Cộng Đồng Nông Thôn
Diễn Đàn Văn Hóa & Xã Hội
Giải Trí
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Cập nhật ngày 16 tháng 2, 2005

Các góp ý xin gởi e-mail về latuan@ctu.edu.vn

Trường Đại Học Cần Thơ Lê Anh Tuấn's Home Page